Tra cứu giá cước xuất khẩu đi Malaysia
Book hàng xuất nhập khẩu - vận tải hàng hóa
Danh mục các sân bay ở Malaysia
| Sân bay quốc tế tại Malaysia | ICAO | IATA | International Airport in Malaysia |
| Sân bay quốc tế Penang | WMKP | PEN | Penang International Airport |
| Sân bay quốc tế Langkawi | WMKL | LGK | Langkawi International Airport |
| Sân bay Quốc tế Melaka | WMKM | MKZ | Melaka International Airport |
| Sân bay quốc tế Senai | WMKJ | JHB | Senai International Airport |
| Sân bay quốc tế Kuala Lumpur | WMKK | KUL | Kuala Lumpur International Airport |
| Sân bay quốc tế Subang | WMSA | SZB | Subang International Airport |
| Sân bay quốc tế Kota Kinabalu | WBKK | BKI | Kota Kinabalu International Airport |
| Sân bay quốc tế Kuching | WBGG | KCH | Kuching International Airport |
Danh mục các sân bay ở Ai Cập, Danh mục các sân bay ở Ai Cập, Danh mục các sân bay ở Ai Cập, Danh mục các sân bay ở Ai Cập,
Danh mục cảng biển tại Malaysia
CẢNG PENANG
Không náo nhiệt, xô bồ như thủ đô Kuala Lumpur, Penang nổi tiếng là một điểm du lịch nổi tiếng của Malaysia bởi sự cổ điển, bề dày lịch sử và sự đa dạng văn hóa. Nơi đây được “mẹ thiên nhiên” ban tặng sự kết hợp hài hòa giữa biển xanh sóng trắng và núi rừng hùng vĩ.
Penang còn mang đến cho du khách không khí yên tĩnh, hiền hòa khi đi dạo quanh bờ biển tanjung Bungah ngắm nhìn; khu phố George Town thu hút với những tranh vẽ 3D, 2D độc đáo, vui nhộn;
hay tòa lâu đài màu xanh dương huyền thoại Cheong Fatt Tze cổ kính kết hợp hai nền kiến trúc phương Đông và phương Tây hay đền Kek Lok Si – một trong những đền thờ lớn và nổi tiếng nhất tại Malaysia.
Chính vào nhờ vị trí địa lý ở bờ biển tây bắc của Malaysia, sát eo biển Malacca, không những mang về cho Penang những nguồn lợi về du lịch mà còn cho ngành vận tải biển.
Cảng Penang, nằm ở phía tây bắc của bán đảo Malaysia, được xem là cảng lâu đời nhất Malaysia. Cảng đóng vai trò là cửa ngõ chính cho các doanh nghiệp ở các bang phía bắc Malaysia và cả các tỉnh phía nam của Thái Lan.
Cảng có vị trí chiến lược dọc theo Eo biển Malacca, một trong những tuyến vận chuyển bận rộn nhất trên thế giới. Được trang bị đầy đủ để xử lý tất cả các loại hàng hóa như container, chất lỏng, hàng khô, hàng rời và các loại khác;
và cung cấp vô số dịch vụ để phục vụ cho việc vận chuyển an toàn và hiệu quả thông qua các cảng và các cơ sở khác nhau của cảng. Để nâng cao hơn nữa hiệu quả hoạt động của cảng và tăng cường hơn nữa các dịch vụ của mình, Cảng Penang gần đây đã tư nhân hóa.
Cảng container là hoạt động cốt lõi của Cảng Penang với Cảng container Bắc Butterworth (NBCT) là điểm tựa cho nó. Cảng được trang bị 6 bến (N1 đến N6) có tổng chiều dài 1,5km và được trang bị 13 Cầu trục Gantry (QGCs).
7 trong số 13 cầu trục này là các QGC Panamax có khả năng xử lý các tàu với 18 dãy container với tốc độ vận chuyển là 25 chuyến mỗi giờ trên mỗi cần cẩu. Công suất bến hiện tại là 2 triệu TEUs mỗi năm.
Ngoài ra, cảng còn bao gồm 8 cần trục gắn trên đường ray (RMG) phục vụ 2.244 chỗ thuộc khu vực cho hàng xuất khẩu nằm trên cầu cảng để vận hành tải nhanh hơn và hiệu quả.
Một bãi container với diện tích gần 59,24 Hectares cung cấp khoảng 7,104 chỗ trên mặt đất cũng như 1.000 chỗ cho hàng lạnh. Kho hàng trên bến tàu cung cấp đầy đủ các dịch vụ container như khảo sát, sửa chữa, rửa cũng như các dịch vụ liên quan đến hàng lạnh như kiểm hóa, vân vân.
Bến Butterworth Wharves hoạt động từ năm 1969, chi phí đầu tư xây dựng khoảng 60 triệu RM. Diện tích bến cảng lên đến 60.7 hecta với một bến neo dài 1.05 km, không gian kho hàng phức hợp 38,000 m2 có khả năng chứa gần 50,000 m3 hàng hóa.
Cảng cũng được trang bị nhiều loại thiết bị xử lý hàng hóa như xe nâng hàng, máy động lực chính và rơ moóc. Bến tàu được liên kết với vùng nội địa thông qua hệ thống đường cao tốc quốc gia và đường sắt quốc gia. Các tiêu chuẩn hiệu suất xử lý hàng của Cảng Penang đã được chứng nhận chuẩn ISO. Mỗi năm Butterworth Wharves có khả năng xử lý 2,5 triệu tấn hàng hóa.
Từ năm 1975 đến năm 1980, một bến tàu rời đã được xây dựng để xử lý cả các hàng khô và lỏng, tên là Perai Bulk Cargo Terminal (PBCT).
Bến PBCT có diện tích khoảng 33.99 hecta nằm ở phía Nam của nhà máy điện Perai và phía bắc của cầu Penang số 1, chi phí đầu tư xây dựng của chính phủ danh cho hoạt động này là 48.79 triệu RM, được trang bị 111,000 m2 nhà kho; 4.6 hecta kho ngoài trời; 1 giàn và 2 cần cẩu di động ở đầu cầu cảng để đẩy nhanh công tác bốc dở hàng; 5 bến neo, tổng chiều dài 632m có khả năng xử lý 3.9 triệu tấn hàng hóa mỗi năm, trong đó 500m bến được sử dụng cho hàng khô thông thường, 132m còn lại được sử dụng để xử lý hàng hóa nguy hiểm ở thể lỏng và thể khí.
Cước vận chuyển hàng lẻ đường biển đi Penang:
- Hồ Chí Minh – Penang: 5 usd/CBM
- Thời gian vận chuyển hàng lẻ từ Hồ Chí Minh – Penang: 10 ngày
- Hải Phòng – Penang: 5 usd/CBM
- Thời gian vận chuyển hàng lẻ từ Hải Phòng – Penang: 11 ngày
Cước vận chuyển hàng cont đường biển đi Penang:
- Thời gian vận chuyển hàng cont từ Hồ Chí Minh – Penang: 4 ngày
- Thời gian vận chuyển hàng cont từ Hải Phòng – Penang: 5 ngày
CẢNG KUCHING
Kuching là thủ phủ và là thành phố đông dân nhất của bang Sarawak. Kuching là một địa điểm ẩm thực lớn đối với du khách và là cửa ngõ chính để du khách đến thăm Sarawak và Borneo.
Vườn quốc gia đất ngập nước Kuching nằm cách khoảng 30 kilômét từ thành phố, và có nhiều điểm thu hút du lịch khác trong và quanh Kuching như Vườn quốc gia Bako, Trung tâm động vật hoang dã Semenggoh, Nhạc hội thế giới Rừng mưa (RWMF), Tòa nhà nghị viện bang, Cung Astana, Pháo đài Margherita, Bảo tàng mèo Kuching, và Bảo tàng bang Sarawak. Thành phố trở thành một trong các trung tâm công nghiệp và thương nghiệp tại Đông Malaysia.
Khu kinh doanh trung tâm Kuching mới, Khu công nghiệp Pending, Khu công nghiệp Demak Laut, Khu công nghiệp tự do Sama Jaya và ngoại ô Petra Jaya có mục đích là nhằm xúc tiến hoạt động công thương của thành phố để biến nó thành một trung tâm tăng trưởng chủ yếu tại Đông Malaysia, cũng như cho BIMP-EAGA (Khu vực Phát triển Đông ASEAN).
Thành phố cũng là nơi tổ chức nhiều hội nghị, hội thảo và hội chơ thương mại, như Diễn đàn Kinh danh Toàn cầu Malaysia, Hội nghị thượng đỉnh các Lãnh đạo của Tương lai, Hội nghị thế giới của Hiệp hội Thủy điện Quốc tế (IHA), Diễn đàn Du lịch ASEAN, và các hội nghị khác. Các sự kiện này thường được tổ chức tại Trung tâm Hội nghị Borneo.
Nằm trên diện tích 31.94 hecta, cảng Kuching có sức chứa hằng năm gần 10 triệu tấn hàng hóa bao gồm 2 bến tàu chính:
- Bến Pending rộng 31.94 hecta, được trang bị một bến neo dài 613m. Trong đó, khu vực hàng quá cảnh rộng 33,201 m2, khu vực hàng nguy hiểm rộng 450 m2, khu vực bãi ngoài trời là 30,000 m2, bãi hàng phương tiện vận chuyển rộng 75,000 m2.
- Bến Senari có diện tích lớn gấp hai lần cảng Pending, cụ thể là 60 hecta, phục vụ cho việc xử lý nhiều hàng hóa hơn. Bến tàu cung cấp sức chứa hàng hóa trung bình lên tới 7 triệu tấn mỗi năm, với bãi hàng container rộng 182,500 m2, khu vực hàng quá cảnh rộng 20,000 m2, một tiện ích so với bến Pending đó là nơi đây còn cung cấp khu vực kho hàng lạnh rộng 192 m2 và hàng lẻ CFS rộng 8,000 m2.
Vận chuyển hàng hóa từ Hồ Chí Minh đi Kuching:
- Thời gian vận chuyển hàng cont từ Hồ Chí Minh – Kuching: 7 ngày
- Vận chuyển hàng hóa từ Hải Phòng đi Kuching:
- Thời gian vận chuyển hàng cont từ Hải Phòng – Kuching: 10 ngày
Tra cứu giá cước xuất khẩu đi Malaysia, Tra cứu giá cước xuất khẩu đi Malaysia, Tra cứu giá cước xuất khẩu đi Malaysia, Tra cứu giá cước xuất khẩu đi Malaysia,
Tra cứu giá cước xuất khẩu đi Malaysia, Tra cứu giá cước xuất khẩu đi Malaysia, Tra cứu giá cước xuất khẩu đi Malaysia, Tra cứu giá cước xuất khẩu đi Malaysia,
Cước phí hàng xuất khẩu: 'Vùng tối' của các hãng tàu biển nước ngoài?
Một thực tế hiện nay là các loại cước phí cũng như các mức phụ thu vận chuyển hàng hóa XNK của hãng tàu nước ngoài không được đăng ký kê khai với cơ quan có thẩm quyền mà do các hãng tự quyết định.
Trong khi các doanh nghiệp Việt Nam đang phải chật vật với các khoản chi phí trong bối cảnh dịch bệnh COVID-19, thì một thực tế là giá cước và mức phụ thu ngoài giá dịch vụ vận chuyển container bằng đường biển của các hãng tàu nước ngoài tại Việt Nam lại đang là “vùng tối,” khó kiểm soát dẫn đến hiện tương giá “tăng phi mã” thời gian qua.
Có hay không việc các hãng tàu nước ngoài “thao túng” giá cước vận chuyển cũng như các mức phụ thu đối với hàng hóa xuất nhập khẩu? Đây cũng chính là câu hỏi đang đặt ra cho cơ quan quản lý Nhà nước.
Tra cứu giá cước xuất khẩu đi Malaysia, Tra cứu giá cước xuất khẩu đi Malaysia, Tra cứu giá cước xuất khẩu đi Malaysia, Tra cứu giá cước xuất khẩu đi Malaysia,
Mập mờ trong khai báo giá cước
Kết quả kiểm tra tại hãng tàu CMA-CGM-một công ty vận tải container đến từ nước Pháp cho thấy việc niêm yết mức giá, các loại phụ thu ngoài giá cước dịch vụ vận tải biển hiện chưa đúng và không phản ánh giá cước thực tế. Chính điều này đã khiến cho giá cước vận tải biển “tăng phi mã” thời gian qua.
Đây cũng là thực trạng chung tại cả 9 hãng tàu nước ngoài gồm MSC (Thụy Sĩ-Italy), OOCL (Hong Kong), CMA-CGM (Pháp), Hapag-Lloyd (Đức), ONE (Nhật Bản), Evergreen (Đài Loan), HMM (Hàn Quốc), Maersk Lines (Đan Mạch) và Yangming (Đài Loan) đang nắm giữ phần lớn thị phần vận chuyển hàng hóa container của Việt Nam đi châu Mỹ, châu Âu vừa được đoàn kiểm tra liên ngành phát hiện.
Ông Hoàng Hồng Giang, Phó Cục trưởng Cục Hàng hải Việt Nam – Trưởng đoàn kiểm tra liên ngành cho biết trong các lần thay đổi giá cước, các hãng đều khai báo có thay đổi niêm yết theo quy định. Tuy nhiên, trên website của hãng tàu lại không hề thể hiện thời gian niêm yết, do vậy không biết chính xác được các hãng tàu có niêm yết trước 15 ngày sau mỗi lần thay đổi giá cước hay không.
Bên cạnh đó, ông Giang cũng nhìn nhận giá cước niêm yết không phản ánh giá cước thực tế, các hãng tàu có chính sách giá cước khác nhau và thường thấp hơn giá niêm yết, giá cước thực tế không được công khai niêm yết.
“Các loại phụ thu được niêm yết chỉ thể hiện mức giá, không ghi chi tiết thời điểm bắt đầu và kết thúc, không nêu rõ lý do thu, không lưu lại thời gian niêm yết và các lần thay đồi niêm yết. Mức giá do hãng tàu tự quyết định và thu của khách hàng mà không phải đăng ký kê khai với cơ quan có thẩm quyền,” ông Giang nhấn mạnh.
Tra cứu giá cước xuất khẩu đi Malaysia, Tra cứu giá cước xuất khẩu đi Malaysia, Tra cứu giá cước xuất khẩu đi Malaysia, Tra cứu giá cước xuất khẩu đi Malaysia,
Các hãng tàu tiếp tục tăng giá, doanh nghiệp thêm khó khăn
Kiểm tra thực tế cũng cho thấy trung bình mỗi hãng áp dụng khoảng 3-5 loại phụ thu đối với hàng hóa xuất nhập khẩu. Các loại phụ thu chủ yếu là chứng từ, vệ sinh container (đối với hàng nhập), kẹp chì (đối với hàng xuất).
Đáng chú ý, các loại phụ thu chỉ thể hiện mức giá, không nêu cụ thể lý do thu, thời điểm bắt đầu thu và kết thúc. Mức giá các loại phụ thu do hãng tàu tự đưa ra mà không có sự thỏa thuận với khách hàng.
Trong số đó, một số loại phụ thu không căn cứ vào chi phí thực tế của dịch vụ như phụ thu khai báo trọng tải hàng hóa được thu, với mức giá từ 30-50 USD, trong khi hãng tàu gần như không mất chi phí cho dịch vụ này.
“Như vậy, việc quy định niêm yết giá cước và các loại phụ thu không mang lại nhiều ý nghĩa trong việc quản lý, kiểm tra, giám sát giá. Giá cước niêm yết không phản ánh giá thực tế. Các loại phụ thu của hãng tàu không được đăng ký kê khai với cơ quan có thẩm quyền mà do hãng tàu tự quyết định nên không kiểm soát được mức giá và các loại phụ thu,” ông Giang thừa nhận.
Tra cứu giá cước xuất khẩu đi Malaysia, Tra cứu giá cước xuất khẩu đi Malaysia, Tra cứu giá cước xuất khẩu đi Malaysia, Tra cứu giá cước xuất khẩu đi Malaysia,
Cách nào để quản giá cước thực
Khẳng định kết quả kiểm tra cho thấy các hãng tàu hoạt động phù hợp với quy định của pháp luật Việt Nam về Luật cạnh tranh, mặc dù các hãng có chính sách giá khác nhau, không chia sẻ giá cước trong cùng liên minh, tuy nhiên, theo ông Giang, trong thời gian vừa qua, các hãng tàu đồng loạt tăng giá trong cùng thời điểm khi thị trường vận tải có biến động tạo ra một mặt bằng giá cước tăng cao trên toàn thế giới.
Trong khi đó, hình thức xử phạt đối với hành vi vi phạm về niêm yết giá tại Nghị định số 142/2017/NĐ-CP của Chính phủ quy định xử phạt hành chính trong lĩnh vực hàng hải, trong đó chế tài xử phạt các doanh nghiệp không niêm yết giá rất thấp, mức phạt từ 1-3 triệu đồng/lần, chưa đủ sức răn đe đối với doanh nghiệp vi phạm về niêm yết giá.
Hiện thị phần vận tải hàng hóa của Việt Nam xuất nhập khẩu đi thị trường châu Mỹ, châu Âu phụ thuộc hoàn toàn vào hãng tàu nước ngoài. Các chính sách giá cước, các loại phụ thu cũng do các hàng tự quyết định, các chủ hàng của Việt Nam quy mô nhỏ, chủ yếu nhu cầu theo thời vụ nên không có kế hoạch ký kết hợp đồng vận tải dài hạn, dẫn đến gặp nhiều rủi ro khi thị trường biến động.
Tra cứu giá cước xuất khẩu đi Malaysia, Tra cứu giá cước xuất khẩu đi Malaysia, Tra cứu giá cước xuất khẩu đi Malaysia, Tra cứu giá cước xuất khẩu đi Malaysia,
Để nâng cao công tác quản lý Nhà nước về giá và hoạt động của các hãng tàu nước ngoài khi hoạt động kinh doanh tại Việt Nam nhằm tạo sự công khai minh bạch, bình đẳng, Cục Hàng hải Việt Nam kiến nghị Bộ Giao thông Vận tải báo cáo Chính phủ giao bộ rà soát, bổ sung các quy định để nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý Nhà nước đối với các hãng tàu container nước ngoài hoạt động tại Việt Nam như khi hãng tàu nước ngoài khi vào hoạt động tại Việt Nam phải đăng ký tuyến vận tải, lịch trình, lượng hàng… nhằm tránh tạo ra sự tùy tiện trong việc hãng tàu tự ý bỏ tuyến, chậm chuyến hoặc hủy đặt chỗ gây thiệt hại cho doanh nghiệp xuất nhập khẩu.
Hãng tàu nắm quyền chi phối, giá cước vận tải biển khó giảm
Mặt khác, Bộ Giao thông Vận tải cần sửa đổi Điều 21 Nghị định số 142/2017/NĐ-CP của Chính phủ, theo đó bổ sung chế tài xử phạt đối với trường hợp vi phạm các quy định về kê khai, niêm yết; tăng mức xử phạt đối với trường hợp doanh nghiệp không thực hiện quy định về kê khai, niêm yết giá và rà soát sửa đổi Nghị định số 146/2016/NĐ-CP ngày 2/11/2016 của Chính phủ.
Ngoài ra, Chính phủ giao Bộ Tài chính xem xét sửa đổi, bổ sung quy định về giá cước và các loại phụ thu ngoài giá cước mà hãng tàu thu đối với chủ hàng xuất nhập khẩu tại cảng nước ta cho phù hợp với tình hình thực tế của Việt Nam và tuân thủ tập quán thương mại quốc tế.
Bộ Công thương chủ trì xem xét làm việc với Hiệp hội doanh nghiệp dịch vụ Logistics Việt Nam để nâng cao chất lượng dịch vụ, giảm giá thành cung cấp dịch vụ và Hiệp hội chủ hàng Việt Nam để nâng cao vị thế vai trò của chủ hàng đối với các hãng tàu và đơn vị cung cấp dịch vụ vận chuyển.
Có như vậy, việc quản lý giá cước vận chuyển cũng như các mức phụ thu đối với hàng hóa xuất nhập khẩu của các hãng tàu nước ngoài mới thực sự minh bạch, tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh cũng như thuận lợi cho các doanh nghiệp Việt Nam khi tham gia vào thị trường thế giới./.
Việt Hùng (Vietnam+)
Tra cứu giá cước xuất khẩu đi Malaysia, Tra cứu giá cước xuất khẩu đi Malaysia, Tra cứu giá cước xuất khẩu đi Malaysia, Tra cứu giá cước xuất khẩu đi Malaysia,
Tra cứu giá cước xuất khẩu đi Malaysia, Tra cứu giá cước xuất khẩu đi Malaysia, Tra cứu giá cước xuất khẩu đi Malaysia, Tra cứu giá cước xuất khẩu đi Malaysia,